Việt Nam
Tài nguyên SHTT và hướng dẫn nộp đơn
Loại hình bảo hộ, điều kiện cấp bằng độc quyền sáng chế và thời hạn bảo hộ
Bằng độc quyền sáng chế: yêu cầu phải có tính mới tuyệt đối trên toàn thế giới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Thời hạn bảo hộ là 20 năm kể từ ngày nộp đơn.
Bằng độc quyền giải pháp hữu ích (còn được gọi là mẫu hữu ích hoặc bằng độc quyền sáng chế nhỏ ở các quốc gia khác): không phải là hiểu biết thức thông thường và yêu cầu phải có tính mới tuyệt đối trên toàn thế giới và khả năng áp dụng công nghiệp nhưng không yêu cầu trình độ sáng tạo. Tại Việt Nam, giải pháp hữu ích có thể được bảo hộ ở tất cả các lĩnh vực kỹ thuật và có thể được bảo hộ cho cả sản phẩm lẫn quy trình, tương tự như bằng độc quyền sáng chế. Thời hạn bảo hộ là 10 năm kể từ ngày nộp đơn.
- Tính mới: một sáng chế/giải pháp hữu ích được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác, trong hoặc ngoài nước, trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên). Tình trạng kỹ thuật đã biết bí mật được áp dụng để đánh giá tính mới. Cụ thể, sáng chế/giải pháp hữu ích không được coi là có tính mới nếu được bộc lộ trong một đơn sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày đó.
- Trình độ sáng tạo: một sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu, dựa trên tất cả các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác trong hoặc ngoài Việt Nam, trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên), sáng chế là một bước tiến sáng tạo và không thể dễ dàng được tạo ra bởi người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Tình trạng kỹ thuật đã biết bí mật không được áp dụng để đánh giá trình độ sáng tạo.
- Khả năng áp dụng công nghiệp: một sáng chế/giải pháp hữu ích được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện việc sản xuất hàng loạt hoặc chế tạo sản phẩm, hoặc áp dụng lặp lại quy trình là đối tượng của sáng chế/giải pháp hữu ích, với kết quả ổn định.
- Cho đến nay, chưa có định nghĩa hay hướng dẫn về hiểu biết thông thường.
Hiện tại, không có quy định về việc gia hạn thời hạn bảo hộ sáng chế.
Không có quy định về việc phục hồi bằng độc quyền sáng chế đã hết hiệu lực.
Các điều ước, công ước quốc tế
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).
Thời hạn nộp đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên tại Việt Nam là 12 tháng kể từ ngày ưu tiên sớm nhất.
Thời hạn yêu cầu vào giai đoạn quốc gia tại Việt Nam đối với đơn PCT là 31 tháng kể từ ngày ưu tiên sớm nhất đối với cả đơn theo Chương I và Chương II PCT.
Hệ thống thẩm định
Việt Nam áp dụng hệ thống thẩm định nội dung.
Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
- Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
- Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
- Cách thức thể hiện thông tin;
- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
- Giống thực vật, giống động vật;
- Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.
Tình trạng kỹ thuật đã biết
Tình trạng kỹ thuật đã biết là tất cả các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai thông qua việc sử dụng hoặc mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác trong hoặc ngoài nước trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có quyền ưu tiên), tùy trường hợp, của đơn đăng ký sáng chế. Tình trạng kỹ thuật đã biết bí mật được áp dụng để đánh giá tính mới nhưng không áp dụng để đánh giá trình độ sáng tạo. Cụ thể, sáng chế/giải pháp hữu ích không được coi là có tính mới nếu được bộc lộ trong một đơn sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày đó.
Tình trạng kỹ thuật đã biết bao gồm ít nhất các nguồn sau:
- Tất cả các đơn đăng ký sáng chế do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) tiếp nhận có cùng chỉ số Phân loại sáng chế quốc tế (IPC) (tính đến chỉ số phân lớp) với đơn đang được thẩm định và có ngày ưu tiên (nếu có quyền ưu tiên) hoặc ngày nộp đơn sớm hơn ngày của đơn đang được thẩm định (khi đánh giá tính mới) hoặc có ngày công bố sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (khi đánh giá trình độ sáng tạo);
- Đơn đăng ký sáng chế hoặc bằng độc quyền sáng chế được công bố bởi các tổ chức hoặc quốc gia khác trong vòng 25 năm trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có quyền ưu tiên) của đơn đang được thẩm định, được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu sáng chế có tại Cục SHTT và các nguồn thông tin khác do Cục SHTT quy định. Các tiêu chí về IPC và ngày tháng nêu trên được áp dụng khi đánh giá tính mới và trình độ sáng tạo;
- Các sáng chế mật tính đến ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có quyền ưu tiên) của đơn đang được thẩm định.
Cục SHTT có nghĩa vụ thực hiện tra cứu trong phạm vi các tài nguyên yêu cầu nêu trên để xác định các điều kiện bảo hộ sáng chế. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết và có thể Cục SHTT cũng có thể mở rộng phạm vi tra cứu đến cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ hoặc bất kỳ nguồn thông tin khác có thể truy cập được, gồm cả nguồn thông tin trên Internet, nếu thấy cần thiết đối với bất kỳ tài liệu nào mô tả giải pháp kỹ thuật giống hoặc tương tự với sáng chế đang được xem xét.
Trên thực tế, Cục SHTT có xu hướng dựa vào kết quả tra cứu và thẩm định cho đơn đồng dạng được ban hành bởi các Cơ quan sáng chế lớn trên thế giới như USPTO, EPO, JPO, CNIPO, KIPO, v.v. Do đó, các tài liệu về tình trạng kỹ thuật đã biết được dẫn chiếu trong kết quả tra cứu và thẩm định của các cơ quan này thường được Cục SHTT tham khảo.
Nghĩa vụ nộp tài liệu về tình trạng kỹ thuật đã biết
Việt Nam không có quy định về “Nghĩa nộp tài liệu về tình trạng kỹ thuật đã biết”. Do đó, việc nộp tài liệu về tình trạng kỹ thuật đã biết từ các đơn sáng chế đồng dạng không phải là bắt buộc.
Tuy nhiên, theo quy định, người nộp đơn có thể (chủ động hoặc theo yêu cầu bằng văn bản cụ thể của Cục SHTT) nộp các tài liệu sau để hỗ trợ quá trình thẩm định nội dung: kết quả tra cứu hoặc thẩm định của các đơn đồng dạng tại nước ngoài; bản sao yêu cầu bảo hộ được chấp thuận hoặc bằng độc quyền sáng chế đã cấp cho các đơn đồng dạng tại nước ngoài; tài liệu về tình trạng kỹ thuật đã biết của các đơn đồng dạng tại nước ngoài được nêu ra bởi các cơ quan sáng chế nước ngoài và các tài liệu khác.
Trên thực tế, Cục SHTT sẽ không yêu cầu nộp tài liệu về tình trạng kỹ thuật đã biết của các đơn đồng dạng tại nước ngoài hoặc bằng độc quyền sáng chế nước ngoài bằng tiếng Anh mà có thể tra cứu trực tuyến. Cục SHTT thường yêu cầu người nộp đơn nộp bản dịch tiếng Anh của yêu cầu bảo hộ đã được chấp thuận của các bằng độc quyền sáng chế nước ngoài không phải tiếng Anh, ví dụ như yêu cầu bảo hộ của bằng độc quyền sáng chế Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản để tham khảo trong quá trình thẩm định. Do đó, chỉ khi có yêu cầu bằng văn bản của Cục SHTT, người nộp đơn mới phải nộp các tài liệu đó trong thời hạn quy định.
Thời hạn ân hạn (ngoại lệ về tính mới)
Sáng chế/giải pháp hữu ích sẽ không bị coi là mất tính mới nếu được bộc lộ trong các trường hợp sau:
- Được biết đến chỉ bởi một số người có giới hạn có nghĩa vụ giữ bí mật.
- Được bộc lộ bởi người có quyền nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc bởi người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người có quyền nộp đơn đăng ký sáng chế, với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong vòng 12 tháng kể từ ngày bộc lộ.
- Được công bố trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc trong văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp bởi cơ quan sở hữu công nghiệp trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc khi đơn do người không có quyền đăng ký nộp.
Tính thống nhất của đơn đăng ký sáng chế
Một đơn đăng ký sáng chế chỉ được đề cập đến một sáng chế hoặc một nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất.
Bản mô tả sáng chế
Bản mô tả sáng chế bao gồm phần mô tả, yêu cầu bảo hộ, hình vẽ và danh mục trình tự (nếu có).
Phần mô tả
Phần mô tả thường bao gồm các nội dung sau:
- Tên sáng chế: thường thể hiện đối tượng được yêu cầu bảo hộ của sáng chế;
- Lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế: nêu lĩnh vực kỹ thuật mà sáng chế liên quan;
- Tình trạng kỹ thuật đã biết: nêu rõ tình trạng kỹ thuật đã biết mà người nộp đơn đã biết, hữu ích cho việc hiểu, tiến hành tra cứu về khả năng bảo hộ và thẩm định nội dung sáng chế. Nên nêu các tài liệu thể hiện tình trạng kỹ thuật đã biết tương tự gần nhất;
- Bản chất kỹ thuật của sáng chế: nêu bản chất của đối tượng cần bảo hộ, cần nêu rõ các nội dung sau: vấn đề kỹ thuật cần giải quyết (mục đích của sáng chế); các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật tạo nên đối tượng yêu cầu bảo hộ, và phải chỉ ra các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật mới so với các giải pháp kỹ thuật tương tự đã biết; những lợi ích (hiệu quả) có thể đạt được so với tình trạng kỹ thuật (nếu có)
- Mô tả vắn tắt các hình vẽ (nếu có): mô tả ngắn gọn các hình vẽ trong bộ hình vẽ;
- Mô tả chi tiết sáng chế: mô tả chi tiết một hoặc một số phương án thực hiện sáng chế sao cho người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế; nên đưa vào các ví dụ trong phần này.
Yêu cầu bảo hộ
Yêu cầu bảo hộ xác định phạm vi bảo hộ của sáng chế. Yêu cầu bảo hộ phải rõ ràng, ngắn gọn và được hỗ trợ bởi phần mô tả. Bản mô tả và hình vẽ có thể được sử dụng để giải thích yêu cầu bảo hộ.
Yêu cầu bảo hộ có thể bao gồm các điểm yêu cầu bảo hộ độc lập và các điểm yêu cầu bảo hộ phụ thuộc, và phải được đánh số liên tiếp bằng chữ số Ả Rập. Nên sắp xếp các điểm yêu cầu bảo hộ theo thứ tự phạm vi bảo hộ sao cho điểm yêu cầu bảo hộ đầu tiên là rộng nhất. Tất cả các điểm yêu cầu bảo hộ phụ thuộc nên được nhóm lại cùng với điểm yêu cầu bảo hộ hoặc các điểm yêu cầu bảo hộ mà chúng phụ thuộc.
Mỗi yêu cầu bảo hộ phải được viết thành một câu duy nhất.
Hình vẽ
Hình vẽ cần thiết khi hỗ trợ để hiểu, minh họa sáng chế. Hình vẽ phải ở dạng đen trắng, được thể hiện trên giấy không kẻ ô. Chữ viết chỉ được sử dụng trong hình vẽ khi cần thiết để làm rõ hình vẽ. Các trang hình vẽ phải được đánh số liên tiếp bằng chữ số Ả Rập, bắt đầu từ 1. Số của mỗi trang hình vẽ phải được thể hiện bằng hai chữ số Ả Rập đặt hai bên một dấu gạch chéo, trong đó số đầu là số thứ tự của trang và số sau là tổng số trang hình vẽ.
Bản tóm tắt sáng chế
Bản tóm tắt sáng chế mô tả một cách vắn tắt sáng chế, trình bày ngắn gọn, không nên quá 150 từ. Bản tóm tắt bộc lộ những nội dung chủ yếu về bản chất của giải pháp kỹ thuật và chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin.
Quy trình xử lý đơn sáng chế
Đơn đăng ký sáng chế (bao gồm đơn Công ước và đơn giai đoạn quốc gia của đơn PCT) sẽ được thẩm định hình thức, công bố và thẩm định nội dung.
- Thẩm định hình thức: 01 tháng kể từ ngày Cục SHTT nhận được đơn hợp lệ, hoặc ngày đầu tiên của tháng thứ 32 kể từ ngày ưu tiên sớm nhất (đối với đơn PCT), tùy ngày nào muộn hơn.
- nếu kết quả thẩm định hình thức là hợp lệ, đơn sẽ được công bố.
- nếu kết quả thẩm định hình thức là không hợp lệ, Cục SHTT sẽ ban hành thông báo kết quả thẩm định hình thức (Office Action). Người nộp đơn có thể nộp ý kiến phản hồi/sửa đổi trong vòng 02 tháng kể từ ngày ra thông báo. Nếu ý kiến phản hồi/sửa đổi của người nộp đơn là hợp lệ, đơn sẽ được công bố. Nếu ý kiến phản hồi của người nộp đơn là không hợp lệ, Cục SHTT sẽ ban hành Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế.
- Công bố đơn: đơn đã trải qua giai đoạn thẩm định hình thức sẽ được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Đối với đơn PCT: trong vòng 01 tháng kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ sau khi thẩm định hình thức. Đối với đơn Công ước, thời điểm công bố là ngày muộn hơn trong số các ngày: (i) vào tháng thứ 19 kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm nhất (nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên), hoặc (ii) trong vòng 01 tháng kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ sau khi thẩm định hình thức.
- không có quy định về trì hoãn công bố đơn
- công bố sớm: theo yêu cầu bằng văn bản của người nộp đơn, đơn sẽ được công bố trong vòng 01 tháng kể từ ngày có yêu cầu, hoặc kể từ ngày đơn được coi là hợp lệ sau khi thẩm định hình thức, tùy ngày nào muộn hơn.
- Thẩm định nội dung: 12 tháng kể từ ngày nào muộn hơn trong số các ngày: (i) ngày có yêu cầu thẩm định nội dung hoặc (ii) ngày công bố đơn.
- yêu cầu thẩm định nội dung cần được nộp trước thời hạn 36 tháng kể từ ngày ưu tiên sớm nhất (hoặc ngày nộp đơn nếu đơn không có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên).
- bất kỳ bên thứ ba nào cũng có thể nộp yêu cầu thẩm định nội dung đơn tại Cục SHTT.
- nếu kết quả thẩm định nội dung là không đạt yêu cầu, Cục SHTT sẽ ban hành thông báo kết quả thẩm định nội dung. Người nộp đơn có thể nộp ý kiến phản hồi/sửa đổi trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký thông báo. Cục SHTT sẽ ban hành Thông báo dự định cấp văn bằng bảo hộ (nếu ý kiến phản hồi của người nộp đơn là hợp lệ) hoặc Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế (nếu ý kiến phản hồi của người nộp đơn là không hợp lệ).
- Cấp bằng: nếu kết quả thẩm định nội dung là đạt yêu cầu, Cục SHTT sẽ ban hành Thông báo dự định cấp văn bằng bảo hộ. Người nộp đơn có thể nộp phí, lệ phí cấp bằng và phí duy trì hiệu lực năm thứ nhất trong vòng 02 tháng kể từ ngày ký Thông báo. Cục SHTT sẽ cấp bằng độc quyền sáng chế trong vòng 01 tháng kể từ ngày nộp các khoản phí, lệ phí theo yêu cầu.
- Tổng thời gian từ ngày nộp đơn đến ngày cấp bằng: 2-3 năm trong thực tế.
Thẩm định nhanh
Có thể áp dụng một số phương thức sau đây để đẩy nhanh quá trình thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam:
- Yêu cầu đẩy nhanh thẩm định nội dung đối với đơn đáp ứng tất cả các điều kiện:
- Sáng chế thuộc Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo pháp luật về công nghệ cao, hoặc sáng chế được nghiên cứu và khai thác để phục vụ các tình huống khẩn cấp liên quan đến an ninh, quốc phòng, thiên tai và dịch bệnh;
- Sáng chế đã được khai thác thương mại;
- Yêu cầu công bố sớm được nộp tại thời điểm nộp đơn;
- Đơn đăng ký sáng chế có không quá 10 điểm yêu cầu bảo hộ, trong đó không quá 02 điểm yêu cầu bảo hộ độc lập;
- Đơn đăng ký sáng chế không phải là đơn tách hoặc đơn chuyển đổi.
- Thời hạn thẩm định nội dung được rút ngắn xuống còn 03 tháng (so với thời gian bình thường là 12 tháng).
- Sử dụng kết quả thẩm định nội dung của đơn sáng chế nước ngoài tương ứng: phương thức này có thể áp dụng nếu kết quả thẩm định được ban hành bởi các cơ quan nước ngoài là cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia hoặc khu vực được lựa chọn là cơ quan tra cứu và thẩm định sơ bộ có thẩm quyền theo Hiệp ước PCT, và ít nhất một điểm yêu cầu bảo hộ được xác định là đáp ứng các điều kiện bảo hộ theo kết quả thẩm định nước ngoài. Thời hạn thẩm định nội dung được rút ngắn xuống còn 08 tháng.
- Chương trình thẩm định nhanh sáng chế (PPH)
- Chương trình PPH giữa Cục SHTT và Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO): có thể áp dụng với các yêu cầu bảo hộ được xác định là đáp ứng điều kiện bảo hộ theo ý kiến của JPO, nếu JPO là cơ quan nộp đơn đầu tiên. Thủ tục này sẽ rút ngắn thời hạn thẩm định nội dung xuống còn khoảng 08-09 tháng. Giai đoạn 4 của chương trình bắt đầu từ ngày 01/4/2025 và sẽ kết thúc vào ngày 31/3/2028. Số lượng yêu cầu tối đa được nộp mỗi năm tại Việt Nam là 200 yêu cầu. Trong số 200 yêu cầu đó, tối đa 100 yêu cầu được phép từ ngày 1/4 đến ngày 30/9, và số còn lại được phép từ ngày 1/10 đến ngày 31/3.
- Chương trình PPH giữa Cục SHTT và Cơ quan Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc (KIPO): có thể áp dụng với các điểm yêu cầu bảo hộ được xác định là đáp ứng điều kiện bảo hộ theo ý kiến của KIPO, nếu KIPO là cơ quan nộp đơn đầu tiên. Thủ tục này sẽ rút ngắn thời hạn thẩm định nội dung xuống còn khoảng 08-09 tháng. Chương trình PPH hiện tại bắt đầu từ ngày 1/6/2025 đến ngày 31/5/2028 với tối đa 100 yêu cầu PPH mỗi năm.
- ASPEC (Chương trình Hợp tác thẩm định sáng chế ASEAN): có thể áp dụng khi có kết quả thẩm định khả quan (đáp ứng điều kiện bảo hộ) từ các thành viên ASPEC khác (Brunei Darussalam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore hoặc Thái Lan) đối với các đơn sáng chế đồng dạng. Thời hạn thẩm định nội dung là từ 06 đến 09 tháng.
- Chương trình ASPEC+: có thể áp dụng để cho phép các Cơ quan sáng chế của các thành viên ASPEC+ (Brunei Darussalam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) chia sẻ kết quả tra cứu và thẩm định nội dung đối với các đơn sáng chế đồng dạng với các cơ quan sáng chế thành viên khác. Thời hạn ban hành Thông báo kết quả thẩm định nội dung lần đầu là từ 10 đến 14 tháng.
Sửa đổi đơn
Yêu cầu sửa đổi đơn tự nguyện có thể được nộp tại thời điểm nộp đơn (đối với đơn PCT) hoặc bất kỳ lúc nào trong quá trình thẩm đinh đơn nhưng phải được nộp trước khi ban hành Quyết định cấp bằng (ngày cấp bằng) hoặc Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế.
Việc sửa đổi không được vượt quá nội dung được bộc lộ trong bản mô tả gốc, không được thay đổi bản chất của đối tượng được nêu trong đơn và phải đảm bảo tính thống nhất của sáng chế. Cần có giải thích/căn cứ hỗ trợ cho các sửa đổi.
Có thể sửa đổi bản mô tả sau khi ban hành Thông báo dự định cấp văn bằng bảo hộ, tuy nhiên đơn sẽ phải được thẩm định lại.
Ghi nhận chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế và thay đổi tên/địa chỉ của người nộp đơn
Yêu cầu ghi nhận chuyển nhượng hoặc yêu cầu ghi nhận thay đổi tên/địa chỉ của người nộp đơn đối với đơn đang được xử lý có thể được nộp bất kỳ thời điểm nào trong quá trình thẩm định đơn nhưng phải được nộp trước khi ban hành Quyết định cấp bằng (ngày cấp bằng) hoặc Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế.
Tại Việt Nam, không thể yêu cầu ghi nhận việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đối với đơn đang được xử lý.
Sáp nhập hoặc mua lại được ghi nhận dưới hình thức thay đổi tên và/hoặc địa chỉ của người nộp đơn.
Đơn tách
Một hoặc nhiều đơn tách có thể được nộp bất kỳ thời điểm nào trong quá trình thẩm định đơn nhưng phải được nộp trước khi ban hành Quyết định cấp bằng (ngày cấp bằng) hoặc Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế.
Đơn tách dựa trên một đơn tách trước đó đang được xử lý trong trường hợp đơn gốc đã được cấp bằng độc quyền sáng chế: Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định chưa quy định rõ ràng liệu đơn tách đó có được chấp nhận hay không. Tuy nhiên, trên thực tế, Cục SHTT đã chấp nhận đơn tách dựa trên các đơn tách trước đó.
Chuyển đổi đơn
Chuyển đổi đơn đăng ký sáng chế thành đơn đăng ký giải pháp hữu ích và ngược lại có thể thực hiện bất kỳ thời điểm nào trong quá trình thẩm định đơn nhưng phải trước khi ban hành Quyết định cấp bằng hoặc Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế.
Khiếu nại
Có thể khiếu nại đối với các quyết định hoặc thông báo của Cục SHTT trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thẩm định đơn, bao gồm giai đoạn nộp đơn, thẩm định hình thức hoặc thẩm định nội dung. Ví dụ về các quyết định hoặc thông báo có thể khiếu nại như: Thông báo từ chối tiếp nhận đơn, Thông báo chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu sửa đổi, chuyển nhượng, Quyết định từ chối cấp bằng, v.v.
Không thể khiếu nại đối với các thông báo của Cục SHTT nhằm mục đích cung cấp thông tin và yêu cầu bổ sung hồ sơ, ví dụ như Thông báo kết quả thẩm định, Thông báo thiếu sót và yêu cầu sửa đổi/bổ sung tài liệu, Thông báo dự định từ chối đơn.
Khiếu nại lần đầu được nộp lên Cục trưởng Cục SHTT. Thời hạn khiếu nại lần đầu là 90 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được Quyết định hoặc Thông báo của Cục SHTT.
Khiếu nại lần hai được nộp lên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KHCN). Thời hạn nộp khiếu nại lần hai là 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu nếu đến ngày đó khiếu nại lần đầu chưa được giải quyết, hoặc kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
Không thể thực hiện việc sửa đổi trong quá trình giải quyết khiếu nại.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại Cục SHTT hoặc Bộ KHCN có thể tham khảo ý kiến của các chuyên gia tư vấn độc lập và hội đồng tư vấn. Cục SHTT hoặc Bộ KHCN có thể tổ chức thảo luận trực tiếp giữa các bên liên quan với sự tham dự của các chuyên gia tư vấn độc lập và hội đồng tư vấn nếu cần thiết.
Phản đối đơn và Ý kiến của người thứ ba
Mặc dù phản đối đơn và ý kiến của người thứ ba có cùng bản chất và các cơ sở, cho phép người thứ ba nộp ý kiến về việc cấp hoặc không cấp bằng độc quyền sáng chế, hai thủ tục này có sự khác biệt:
- Trong thủ tục phản đối đơn, người thứ ba phải nộp ý kiến trong vòng 06 tháng (hoặc 03 tháng nếu đơn đó có yêu cầu thẩm định nội dung nhanh) kể từ ngày công bố đơn đăng ký sáng chế. Có thủ tục và thời hạn cụ thể để Cục SHTT xử lý phản đối đơn. Cục SHTT có thể tổ chức thảo luận trực tiếp giữa hai bên nếu cần thiết, và Cục SHTT phải thông báo cho người thứ ba về kết quả thẩm định nội dung.
- Trong thủ tục ý kiến của người thứ ba, người thứ ba có thể nộp ý kiến bất kỳ thời điểm nào trước khi ban hành Quyết định cấp bằng hoặc Quyết định từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế. Cục SHTT không có nghĩa vụ trao đổi thư từ giữa các bên. Ý kiến và tài liệu do người thứ ba nộp cho Cục SHTT được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình thẩm định của Cục SHTT. Trên thực tế, người thứ ba có thể thảo luận vụ việc với thẩm định viên để tìm hiểu quan điểm của thẩm định viên về vấn đề và kết quả thẩm định.
Tránh trùng lặp bằng độc quyền sáng chế
Vấn đề tránh trùng lặp bằng độc quyền sáng chế được quy định theo nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên” của Luật Sở hữu trí tuệ. Cụ thể, nếu nhiều đơn đã được nộp cho các sáng chế giống nhau hoặc tương đương, chỉ một bằng độc quyền sáng chế được cấp. Bằng độc quyền sáng chế sẽ được cấp cho đơn có ngày ưu tiên sớm nhất (nếu có quyền ưu tiên) hoặc ngày nộp đơn sớm nhất.
Có hướng dẫn về “sáng chế giống nhau”. Tuy nhiên, cần có hướng dẫn chi tiết về “sáng chế tương đương”.
Quyền tạm thời đối với sáng chế khi đơn được công bố
Trước khi bằng độc quyền sáng chế được cấp, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) có quyền tạm thời đối với sáng chế/giải pháp hữu ích. Cụ thể, chủ sở hữu QSHTT có thể gửi thư cảnh báo nêu rõ ngày nộp đơn và ngày công bố, và yêu cầu bất kỳ người sử dụng trái phép nào chấm dứt việc sử dụng sáng chế/giải pháp hữu ích đó. Nếu người sử dụng tiếp tục sử dụng sáng chế/giải pháp hữu ích đó, thì khi bằng độc quyền sáng chế được cấp, chủ bằng độc quyền sáng chế có quyền yêu cầu người sử dụng một khoản tiền đền bù tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế/giải pháp hữu ích đó trong phạm vi và thời hạn sử dụng tương ứng.
Kiểm soát an ninh đối với sáng chế trước khi nộp đơn đăng ký ở nước ngoài
Để kiểm soát an ninh quốc gia, người nộp đơn cần có sự cho phép nộp đơn sáng chế ra nước ngoài khi sáng chế/giải pháp hữu ích thuộc cả ba trường hợp sau:
- thuộc danh mục bí mật nhà nước trong các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng;
- được tạo ra tại Việt Nam; và
- thuộc quyền đăng ký của cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam hoặc của tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam.
Trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài, người nộp đơn phải nộp yêu cầu cho phép nộp đơn sáng chế ra nước ngoài đến Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, tùy thuộc vào lĩnh vực kỹ thuật thuộc phạm vi quản lý của một trong các cơ quan trên. Người nộp đơn chỉ được nộp đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài sau khi Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cho phép.
Phí duy trì hiệu lực
Phí duy trì hiệu lực phải nộp đối với bằng độc quyền sáng chế đã được cấp, không có phí duy trì hiệu lực đối với đơn đang được xử lý.
Phí duy trì hiệu lực năm thứ nhất: Phí duy trì hiệu lực năm thứ nhất thường được nộp đồng thời với việc nộp phí cấp bằng.
Phí duy trì hiệu lực năm thứ hai và các năm tiếp theo: thời hạn nộp phí duy trì hiệu lực năm thứ hai và các năm tiếp theo là trước hoặc vào ngày kỷ niệm của ngày cấp bằng. Nếu không nộp phí duy trì hiệu lực đúng hạn, bằng độc quyền sáng chế sẽ bị chấm dứt hiệu lực.
Giấy ủy quyền (GUQ) là tài liệu bắt buộc khi nộp phí duy trì hiệu lực. Nếu có nhiều hơn một chủ bằng độc quyền sáng chế, chỉ cần một GUQ từ một trong các chủ bằng để nộp phí.
Phí duy trì hiệu lực có thể nộp muộn sau thời hạn nhưng không quá sáu tháng với mức phụ phí 10% lệ phí duy trì hiệu lực cho mỗi tháng nộp muộn. Phí duy trì hiệu lực được tính theo từng năm và dựa trên số lượng điểm yêu cầu bảo hộ độc lập.
Trên thực tế, có thể nộp phí duy trì hiệu lực cho tất cả các năm cùng một lúc hoặc nộp gộp cho nhiều năm cùng một lúc.
Ghi nhận chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng bằng độc quyền sáng chế và thay đổi tên/địa chỉ của chủ bằng độc quyền sáng chế
Việc chuyển nhượng sáng chế đã được cấp bằng độc quyền sáng chế bắt buộc phải được ghi nhận tại Cục SHTT. Không có quy định về thời hạn phải nộp yêu cầu ghi nhận chuyển nhượng.
Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế không bắt buộc phải đăng ký tại Cục SHTT. Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại Cục SHTT.
Việc thay đổi tên/địa chỉ của chủ bằng độc quyền sáng chế có thể được ghi nhận tại Cục SHTT. Không có thời hạn để yêu cầu ghi nhận sự thay đổi này. Việc sáp nhập hoặc mua lại được ghi nhận dưới hình thức thay đổi tên và/hoặc địa chỉ của chủ bằng độc quyền sáng chế.
Bản gốc bằng độc quyền sáng chế là tài liệu cần thiết để yêu cầu ghi nhận thay đổi tên/địa chỉ và chuyển nhượng, nhưng không bắt buộc đối với việc yêu cầu ghi nhận chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.
Sửa đổi bằng độc quyền sáng chế
Chỉ có thể yêu cầu thu hẹp phạm vi bảo hộ của bằng độc quyền sáng chế, ví dụ như xóa một hoặc một số điểm yêu cầu bảo hộ. Không được phép sửa đổi bằng cách bổ sung thêm dấu hiệu (vốn đã được bộc lộ trong bản mô tả gốc nhưng chưa được bộc lộ trong các điểm yêu cầu bảo hộ đã được cấp bằng) vào một hoặc một số điểm yêu cầu bảo hộ để thu hẹp phạm vi bảo hộ.
Đính chính sai sót trong bằng độc quyền sáng chế
Theo quy định, chủ bằng độc quyền sáng chế có thể yêu cầu Cục SHTT sửa chữa/đính chính sai sót trong bằng độc quyền sáng chế. Chủ bằng độc quyền sáng chế phải nộp phí cho việc đính chính nếu sai sót là do lỗi của mình. Nếu sai sót do Cục SHTT, chủ bằng độc quyền sáng chế không phải nộp phí.
Nghĩa vụ sử dụng sáng chế và chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc
Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Khi có các nhu cầu này mà chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế.
Trong trường hợp sản phẩm nhập khẩu, sản phẩm do bên nhận chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng sản xuất đã đáp ứng các nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội thì người nắm độc quyền sử dụng sáng chế được xem là đã thực hiện nghĩa vụ sử dụng theo quy định.
Không bắt buộc phải tự động cung cấp bằng chứng về việc sử dụng sau khi bằng độc quyền sáng chế được cấp.
Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc có thể được áp dụng tại Việt Nam phù hợp với quy định của Hiệp định TRIPS. Một số tình huống có thể dẫn đến việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc như:
- nếu sáng chế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và có ý nghĩa kinh tế lớn, chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có quyền yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả và điều kiện thương mại hợp lý và nếu chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do chính đáng;
- việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;
- người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế theo quy định tại sau khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế;
- người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thoả thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện thương mại thoả đáng;
- người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;
- việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu về dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc khi căn cứ chuyển giao không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện với điều kiện việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.
Chấm dứt hiệu lực và Hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế
Chấm dứt hiệu lực:
- Bằng độc quyền sáng chế có thể bị chấm dứt hiệu lực khi có một trong các căn cứ sau:
- Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế không nộp phí, lệ phí duy trì hiệu lực;
- Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế tuyên bố từ bỏ các quyền được xác lập theo bằng độc quyền sáng chế;
- Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế không còn tồn tại.
- Thời hạn yêu cầu chấm dứt hiệu lực: trong toàn bộ thời hạn bảo hộ của bằng độc quyền sáng chế.
Hủy bỏ hiệu lực:
- Bằng độc quyền sáng chế có thể bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực khi có một trong các căn cứ sau:
- Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế;
- Đơn đăng ký sáng chế đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen nhưng không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen có trong đơn đó;
- Tác giả sáng chế không phải là người (con người).
- Bằng độc quyền sáng chế có thể bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần nếu toàn bộ hoặc một số phần của bằng độc quyền sáng chế không đáp ứng các điều kiện, khi có một trong các căn cứ sau:
- Người nộp đơn không có quyền nộp đơn và cũng không được chuyển giao quyền đó;
- Sáng chế trong bằng không đáp ứng các điều kiện bảo hộ hoặc trái với đạo đức xã hội và trật tự công cộng và có hại cho quốc phòng và an ninh tại thời điểm cấp bằng;
- Việc sửa đổi, bổ sung đơn đăng ký sở hữu công nghiệp làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn;
- Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
- Sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu của đơn đăng ký sáng chế;
- Sáng chế không đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên.
- Việc sửa đổi trong quá trình hủy bỏ hiệu lực: không có quy định cụ thể và không có quy định cấm sửa đổi trong thủ tục hủy bỏ hiệu lực.
Khiếu nại sau cấp bằng bảo hộ
Tương tự như đơn đang được xử lý, có thể khiếu nại các quyết định hoặc thông báo của Cục SHTT trong giai đoạn sau khi cấp văn bằng bảo hộ. Các quyết định hoặc thông báo có thể khiếu nại bao gồm, ví dụ như các thông báo hoặc quyết định từ chối hoặc chấp nhận việc nộp phí duy trì hiệu lực/gia hạn hiệu lực, sửa đổi bằng độc quyền sáng chế, chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế.
Ngoài ra, không thể khiếu nại đối với các thông báo của Cục SHTT nhằm mục đích cung cấp thông tin và yêu cầu bổ sung hồ sơ, ví dụ như thông báo kết quả thẩm định, thông báo thiếu sót và yêu cầu sửa đổi/bổ sung tài liệu, thông báo dự định từ chối yêu cầu.
Việc giải quyết khiếu nại tương tự như đối với đơn đang được xử lý như đã nêu ở trên.
Sẵn sàng tiến bước tiếp theo?
Nhận tư vấn ban đầu miễn phí
Đội ngũ luật sư của chúng tôi sẵn sàng tư vấn cho bạn về bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Đông Nam Á. Chúng tôi thường phản hồi trong vòng một ngày làm việc.