Duong & Tran Intellectual Property

Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam: Những thay đổi quan trọng có hiệu lực từ ngày 01/4/2026

6/4/2026

  • Giới thiệu
    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam (“Luật SHTT sửa đổi”), cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có Thông tư 10/2026/TT-BKHCN, đã có hiệu lực từ ngày 01/4/2026. Đây là một trong những lần sửa đổi có phạm vi rộng nhất đối với khung pháp lý về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong những năm gần đây, bao trùm các lĩnh vực sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, quyền đối với giống cây trồng và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

    Việc sửa đổi này hướng tới năm mục tiêu chính sau đây:
    • Hỗ trợ việc tạo ra và khai thác thương mại các tài sản sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo;
    • Đơn giản hóa thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian thẩm định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ;
    • Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ;
    • Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các cam kết quốc tế của Việt Nam về sở hữu trí tuệ; và
    • Cập nhật các vấn đề mới trong bảo hộ sở hữu trí tuệ phù hợp hơn với xu hướng quốc tế.

    Phần dưới đây tóm tắt các sửa đổi đáng chú ý nhất đối với các quy định chung và đối với từng đối tượng sở hữu trí tuệ cụ thể.
    Một số nội dung sửa đổi đáng lưu ý
    Các vấn đề chung

    • Quyền sở hữu trí tuệ là tài sản giao dịch (lần đầu tiên tại Việt Nam): Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình trong các giao dịch dân sự, thương mại và đầu tư — bao gồm việc sử dụng để góp vốn hoặc làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay — theo quy định của pháp luật có liên quan. Đây là lần đầu tiên pháp luật Việt Nam ghi nhận một cách rõ ràng quyền sở hữu trí tuệ là tài sản có thể được sử dụng trong giao dịch và hoạt động tài chính.
    • Ngoại lệ mới đối với việc huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác văn bản, dữ liệu: Một ngoại lệ mới về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cho phép sử dụng văn bản, dữ liệu đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện AI, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này.
    • Xung đột quyền: Trường hợp nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập đối với cùng một đối tượng, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập sau đối với đối tượng đó sẽ bị buộc chấm dứt thực hiện khi việc thực hiện quyền đó mâu thuẫn với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ đã phát sinh trước hoặc được xác lập trước. Tòa án có thẩm quyền quyết định việc chấm dứt này.
    • Chuyển đổi số trong quản lý sở hữu trí tuệ: Luật SHTT sửa đổi thúc đẩy việc chuyển đổi số trong các hoạt động sở hữu trí tuệ, bao gồm việc nộp đơn trực tuyến, các nền tảng thực thi quyền trên môi trường số và việc định giá quyền sở hữu trí tuệ trong giao dịch.
    • Văn bản ủy quyền — đối với các vấn đề về sở hữu công nghiệp:
    ◦ Trường hợp văn bản ủy quyền không quy định thời hạn hiệu lực, thời hạn của văn bản ủy quyền sẽ được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự: một năm kể từ ngày có hiệu lực hoặc cho đến khi công việc được ủy quyền hoàn thành.
    ◦ Thông tư 10/2026/TT-BKHCN quy định rằng văn bản ủy quyền có nêu rõ việc uỷ quyền chỉ chấm dứt khi một trong hai bên có văn bản tuyên bố chấm dứt hoặc khi có văn bản ủy quyền khác thay thế thì văn bản ủy quyền đó được coi là có quy định về thời hạn, phù hợp với quy định của Luật SHTT sửa đổi.
    ◦ Văn bản ủy quyền sử dụng trong thủ tục khiếu nại không còn bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực.
    • Đơn giản hóa việc thẩm định và rút ngắn thời hạn:
    ◦ Loại bỏ việc ban hành Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ. Sau khi đơn kết thúc việc thẩm định hình thức, đơn sẽ được công bố luôn mà không cần ban hành quyết định chấp nhận đơn hợp lệ như trước đây.
    ◦ Bổ sung cơ sở pháp lý cho việc yêu cầu thẩm định nội dung nhanh đối với sáng chế, giải pháp hữu ích và nhãn hiệu.
    ◦ Rút ngắn thời hạn công bố đơn từ hai tháng xuống một tháng.
    ◦ Rút ngắn thời hạn phản đối đơn: từ 9 tháng xuống 6 tháng (hoặc 3 tháng trong trường hợp thẩm định nhanh) đối với sáng chế/giải pháp hữu ích; từ 4 tháng xuống 3 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp; và từ 5 tháng xuống 3 tháng đối với nhãn hiệu.
    ◦ Rút ngắn thời hạn thẩm định nội dung: từ 18 tháng xuống 12 tháng đối với sáng chế/giải pháp hữu ích; từ 7 tháng xuống 5 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp; từ 9 tháng xuống 5 tháng đối với nhãn hiệu; và từ 6 tháng xuống 5 tháng đối với chỉ dẫn địa lý.
    ◦ Rút ngắn thời hạn trả lời thông báo kết quả thẩm định nội dung từ 3 tháng xuống 2 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu.
    ◦ Rút ngắn thời hạn nộp phí, lệ phí cấp văn bằng bảo hộ từ 3 tháng xuống 2 tháng.
    • Bổ sung căn cứ từ chối và hủy bỏ hiệu lực:
    ◦ Đơn đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có thể bị từ chối hoặc hủy bỏ hiệu lực nếu tác giả không phải là con người.
    ◦ Bổ sung việc không tuân thủ nguyên tắc nộp đơn đầu tiên là căn cứ hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trước đây quy định này chỉ áp dụng đối với sáng chế/giải pháp hữu ích).
    Sáng chế
    • Giấy phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài — nới lỏng điều kiện: Việt Nam không còn yêu cầu người nộp đơn phải nộp đơn đăng ký sáng chế trong nước trước như một điều kiện để cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài. Bên cạnh đó, phạm vi các sáng chế thuộc đối tượng kiểm soát an ninh đã được thu hẹp, chỉ còn áp dụng đối với các sáng chế thuộc danh mục bí mật nhà nước. Những thay đổi này thể hiện sự nới lỏng đáng kể đối với các yêu cầu về nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài của Việt Nam.
    • Rút ngắn thời hạn yêu cầu thẩm định nội dung: Thời hạn nộp yêu cầu thẩm định nội dung đối với đơn đăng ký sáng chế được rút ngắn từ 42 tháng xuống 36 tháng.
    • Đền bù đối với việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc: Loại bỏ quy định về mức đền bù theo thỏa thuận khi chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc. Thay vào đó, Luật sửa đổi Luật SHTT quy định mức đền bù thỏa đáng tùy thuộc vào giá trị kinh tế của quyền sử dụng đó trong từng trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ.
    • Thay đổi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc: Thẩm quyền ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc trong một số trường hợp được chuyển từ Bộ Khoa học và Công nghệ sang Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
    • Thẩm định nhanh trên cơ sở sử dụng kết quả thẩm định của nước ngoài: Thông tư 10/2026/TT-BKHCN quy định rõ rằng kết quả thẩm định của các cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia hoặc khu vực được lựa chọn là cơ quan tra cứu và thẩm định sơ bộ quốc tế theo Hiệp ước PCT có thể được sử dụng làm cơ sở để thẩm định nội dung nhanh.
    Kiểu dáng công nghiệp
    • Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần: Việt Nam hiện mở rộng phạm vi bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp riêng phần của sản phẩm — kiểu dáng của các bộ phận cấu thành mà không thể tách rời khỏi sản phẩm hoàn chỉnh — và mở rộng đối tượng bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm phi vật lý. Các quy định về hành vi xâm phạm cũng được cập nhật tương ứng để bao quát các hành vi liên quan đến các kiểu dáng riêng phần phần mới được bảo hộ này.
    • Mở rộng quy định về ân hạn đối với tính mới: Quy định về ân hạn 6 tháng đối với tính mới được mở rộng. Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính trong trường hợp kiểu dáng được bộc lộ công khai bởi người có quyền đăng ký hoặc bởi người biết được thông tin về kiểu dáng công nghiệp đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người có quyền đăng ký. Việc ân hạn này cũng áp dụng đối với kiểu dáng công nghiệp được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.
    Quyền tác giả
    • Bổ sung các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả: Ý tưởng, khẩu hiệu (slogan) và tên tác phẩm một cách độc lập được quy định rõ là các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả.
    • Hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả theo thẩm quyền chủ động của cơ quan nhà nước: Một cơ chế mới cho phép cơ quan có thẩm quyền chủ động hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc quyền liên quan mà không cần có yêu cầu từ bên thứ ba.
    • Ngoại lệ mới đối với việc huấn luyện AI và khai thác văn bản, dữ liệu: Tương ứng với ngoại lệ chung được nêu ở trên, quyền tác giả cũng có ngoại lệ cho phép sử dụng văn bản, dữ liệu đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện AI. Ngoại lệ này phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau đây:
    ◦ Văn bản, dữ liệu thuộc đối tượng bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan được sử dụng phải đã được công bố hợp pháp;
    ◦ Được tiếp cận thông qua hành vi hợp pháp và từ nguồn hợp pháp;
    ◦ Không hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ bảo vệ quyền mà chủ sở hữu quyền thực hiện để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan của mình;
    ◦ Việc sử dụng không nhằm mục đích thương mại;
    ◦ Việc sử dụng không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan; và
    ◦ Kết quả đầu ra của hệ thống trí tuệ nhân tạo không thay thế thị trường tiêu thụ hoặc khai thác bình thường đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan, không tạo ra việc cạnh tranh không lành mạnh đối với việc khai thác, sử dụng đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan.
    Quyền đối với giống cây trồng
    • Quy định rõ về thời hạn bắt đầu khảo nghiệm kỹ thuật: Trường hợp người nộp đơn tự thực hiện khảo nghiệm kỹ thuật, việc khảo nghiệm phải được bắt đầu trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận hợp lệ sau khi thẩm định hình thức. Việc không đáp ứng thời hạn này sẽ dẫn đến đơn bị coi là rút bỏ. Quy định mới này nhằm hạn chế sự chậm trễ phát sinh do quy định về thời hạn trước đây chưa rõ ràng.
    Thực thi quyền
    • Mở rộng trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) và chủ quản nền tảng số: Trách nhiệm của ISP được mở rộng, không chỉ giới hạn ở quyền tác giả mà bao quát toàn bộ các quyền sở hữu trí tuệ. Định nghĩa về ISP được mở rộng để bao gồm các đơn vị cung cấp phương tiện kỹ thuật, nền tảng số để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên không gian mạng; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên không gian mạng. Chủ quản nền tảng số có trách nhiệm triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
    • Tòa án ra quyết định tiêu hủy hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Tòa án có thẩm quyền quyết định tiêu hủy hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trừ các trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định. Tòa án cũng có thể quyết định tiêu hủy hoặc phân phối, sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng để sản xuất hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, với điều kiện không ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
    • Bổ sung biện pháp xử lý hành vi xâm phạm trên môi trường trực tuyến: Tòa án có thể áp dụng các biện pháp xử lý (gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập) hoặc các biện pháp tạm thời (gỡ bỏ hoặc tạm thời vô hiệu hóa truy cập) đối với thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
    • Tăng mức bồi thường thiệt hại theo luật định:
    ◦ Mức bồi thường thiệt hại về vật chất tối đa theo luật định (trong trường hợp không thể xác định được thiệt hại thực tế) được tăng từ 500 triệu đồng lên một tỷ đồng.
    ◦ Mức bồi thường thiệt hại về tinh thần được tăng từ 5–50 triệu đồng lên 10–100 lần mức lương cơ sở của Nhà nước (tương đương 25,3 triệu đồng đến 253 triệu đồng, áp dụng từ ngày 01/7/2026).
    • Hành vi tàng trữ hàng hóa giả mạo bị coi là hành vi xâm phạm: Hành vi tàng trữ hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ được bổ sung là một hành vi xâm phạm.
    • Xử phạt hành chính đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được quy định là thuộc đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    Khuyến nghị thực tiễn dành cho các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
    Các khuyến nghị hành động sau đây có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoạt động tại Việt Nam:

    1. Rà soát các văn bản ủy quyền hiện có. Các văn bản ủy quyền hiện có không quy định rõ thời hạn hiệu lực cần được rà soát, đối chiếu với các quy định mới về thời hạn theo Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại Thông tư 10/2026/TT-BKHCN.
    2. Cập nhật hệ thống theo dõi thời hạn nộp yêu cầu và xử lý đơn. Thời hạn thẩm định và phản đối đơn theo quy định mới đã được rút ngắn đối với tất cả các đối tượng sở hữu trí tuệ chính. Hệ thống theo dõi thời hạn cần được cập nhật kịp thời để tránh bỏ lỡ các thời hạn quan trọng. Cần đặc biệt lưu ý việc rút ngắn thời hạn yêu cầu thẩm định nội dung từ 42 tháng xuống 36 tháng đối với các đơn quốc tế PCT trong giai đoạn quốc gia tại Việt Nam, trong khi chờ Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam xác nhận chính thức về ngày nộp đơn áp dụng.
    3. Xem xét khả năng yêu cầu thẩm định nhanh. Người nộp đơn có nhu cầu cấp bách về mặt thương mại đối với sáng chế hoặc nhãn hiệu có thể xem xét việc yêu cầu thẩm định nội dung nhanh nếu đáp ứng các điều kiện.
    4. Lưu trữ hồ sơ về các hoạt động sử dụng AI và khai thác văn bản, dữ liệu. Các tổ chức sử dụng AI cho mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm hoặc huấn luyện AI cần đảm bảo quy trình thực hiện của mình đáp ứng đầy đủ các điều kiện của ngoại lệ mới, đặc biệt là về việc tiếp cận hợp pháp, sử dụng không nhằm mục đích thương mại và không thay thế thị trường tiêu thụ hoặc khai thác bình thường đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan.
    5. Xem xét lại việc định giá quyền sở hữu trí tuệ và các cấu trúc tài chính liên quan. Việc ghi nhận quyền sở hữu trí tuệ là tài sản có thể được sử dụng để góp vốn và làm tài sản bảo đảm mở ra các phương án cấu trúc tài chính mới. Chủ thể quyền nên xem xét khả năng khai thác tài sản sở hữu trí tuệ một cách chủ động hơn trong các giao dịch của doanh nghiệp.
    6. Xem xét khả năng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần. Chủ thể quyền nên xem xét việc đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với các bộ phận cấu thành không thể tách rời khỏi sản phẩm hoàn chỉnh — cũng như kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm phi vật lý — hiện đã có thể được bảo hộ tại Việt Nam.
    7. Tăng cường chiến lược thực thi quyền trên môi trường trực tuyến. Khung pháp lý mở rộng về trách nhiệm của ISP/nền tảng số và các biện pháp xử lý mới của Tòa án đối với hành vi xâm phạm trực tuyến cung cấp các công cụ mạnh mẽ hơn để chống lại hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng hóa sao chép lậu và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm trên môi trường số. Chiến lược thực thi quyền cần được cập nhật để tận dụng các cơ chế này, bao gồm các hành động đối với các thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
    8. Xem xét lại ngân sách thực thi quyền khi mức trần bồi thường thiệt hại được nâng cao. Việc tăng gấp đôi mức bồi thường thiệt hại về vật chất tối đa theo luật định (lên một tỷ đồng) và việc cơ cấu lại mức bồi thường thiệt hại về tinh thần có thể ảnh hưởng đến vị thế đàm phán giải quyết tranh chấp và chiến lược tố tụng trong các vụ tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

    Kết luận
    Luật SHTT sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành là một bước tiến quan trọng trong việc hiện đại hóa khung pháp lý về sở hữu trí tuệ của Việt Nam — đưa khung pháp lý này tiến gần hơn đến các chuẩn mực quốc tế, giảm bớt gánh nặng hành chính và cung cấp các công cụ hiệu quả hơn cho việc tạo ra, khai thác thương mại và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Các chủ thể quyền nên kịp thời rà soát danh mục quyền sở hữu trí tuệ và quy trình hiện có của mình để tận dụng đầy đủ các quy định mới và đảm bảo tuân thủ các thời hạn, yêu cầu đã được sửa đổi.


    Bản tin này chỉ nhằm mục đích cập nhật thông tin chung và không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cụ thể. Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ: hanoi@duongtran.vn