Duong & Tran Intellectual Property

Việt Nam Nới lỏng hơn nữa Quy định về Kiểm soát An ninh đối với Sáng chế theo Luật Sửa đổi, Bổ sung một số Điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2025

8/12/2026

Tiếp theo việc nới lỏng quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế ở Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2022, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2025 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026nới lỏng hơn nữa quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế, cụ thể là không còn yêu cầu người nộp đơn phải nộp đơn đăng ký sáng chế trong nước trước trước khi cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài. Thay vì phải nộp đơn sáng chế trong nước, nếu sáng chế thuộc đối tượng phải kiểm soát an ninh, người nộp đơn chỉ cần nộp đơn đề nghị cho phép đăng ký sáng chế ở nước ngoài đến Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an. Bên cạnh đó, phạm vi các sáng chế thuộc đối tượng kiểm soát an ninh đã được thu hẹp hơn, chỉ còn áp dụng đối với các sáng chế thuộc danh mục bí mật nhà nước.

Những sửa đổi này, đặc biệt là việc không bắt buộc phải nộp đơn đăng ký sáng chế trong nước trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài là tiến bộ đáng kể, giảm thời gian, công sức và chi phí cho chủ thể quyền trong trường hợp sáng chế của họ thuộc diện phải kiểm soát an ninh nhưng không có nhu cầu nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam. Dưới đây tóm tắt một số nội dung sửa đổi liên quan đến quy định này.

Trường hợp nào cần phải nộp đơn đề nghị cho phép đăng ký sáng chế ở nước ngoài

Sáng chế có tất cả ba yếu tố sau đây:

  • (i) thuộc danh mục bí mật nhà nước trong các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh;
  • (ii) được tạo ra tại Việt Nam; và
  • (iii) thuộc quyền đăng ký của cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam hoặc của tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam

thì chỉ được nộp đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài sau khi Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an cho phép.

Các tài liệu bắt buộc

Đơn đề nghị cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài cần có các tài liệu sau đây:

  • Tờ khai đề nghị cho phép đăng ký sáng chế ra nước ngoài theo mẫu quy định;
  • Bản mô tả sáng chế dự định đăng ký ở nước ngoài;
  • Văn bản xác định sáng chế thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;
  • Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực văn bản ủy quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện;
  • Các tài liệu khác để bổ trợ cho hồ sơ đơn (nếu có).

Quy trình và thời gian xử lý

Trường hợp đơn hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp nhận và cấp Giấy tiếp nhận đơn cho người nộp đơn.

Trường hợp đơn thiếu một trong các tài liệu bắt buộc thì cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an từ chối tiếp nhận hoặc gửi thông báo từ chối tiếp nhận.

Thời hạn thẩm định đơn là không quá 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận.

Trường hợp đơn có thiếu sót hoặc thông tin trong đơn chưa đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thông báo bằng văn bản trong đó yêu cầu người nộp đơn sửa đổi, bổ sung hoặc làm rõ thông tin nêu trong đơn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo. Hết thời hạn này, nếu người nộp đơn không có ý kiến hoặc có ý kiến nhưng không xác đáng, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ra quyết định từ chối xem xét đề nghị cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn ấn định.

Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có thể lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế trong quá trình thẩm định, nếu cần thiết.

Trường hợp đơn hợp lệ, trên cơ sở đánh giá rủi ro về quốc phòng, an ninh, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ban hành quyết định cho phép hoặc từ chối cho phép nộp đơn đăng ký sáng chế ra nước ngoài (trong đó nêu rõ lý do từ chối). Quyết định cho phép đăng ký sáng chế ra nước ngoài có thể kèm theo các điều kiện nhằm bảo vệ bí mật nhà nước, bao gồm cả việc hạn chế phạm vi nộp đơn.

Một số vấn đề cần hướng dẫn cụ thể

  • Về quy định sáng chế “thuộc danh mục bí mật nhà nước” (mục (i) nêu trên): có rất nhiều “danh mục bí mật nhà nước” thuộc quản lý của các bộ có thể liên quan đến giải pháp kỹ thuật mới của doanh nghiệp như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an… Vì vậy, cần có hướng dẫn cụ thể hơn những “danh mục bí mật nhà nước” nào sẽ thuộc phạm vi của quy định này.
  • Về quy định sáng chế “thuộc các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh” (mục (i) nêu trên): hiện tại chưa có hướng dẫn cụ thể về những lĩnh vực kỹ thuật nào là lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh. Điều này sẽ gây lúng túng cho các chủ thể quyền nên cần có hướng dẫn cụ thể hơn, ví dụ, cần có danh sách các lĩnh vực kỹ thuật có tác động đến quốc phòng, an ninh do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an ban hành cho vấn đề cụ thể này.
  • Về quy định sáng chế “được tạo ra tại Việt Nam” (mục (ii) nêu trên): cũng cần làm rõ, sáng chế được tạo ra một phần hay toàn bộ tại Việt Nam? Trước đây, Cục SHTT diễn giải theo hướng được tạo ra một phần tại Việt Nam cũng được coi là “được tạo ra tại Việt Nam”. Tuy nhiên, hiện tại, do đơn đề nghị cho phép đăng ký sáng chế ở nước ngoài do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an xem xét, cần có hướng dẫn cụ thể bằng văn bản từ Bộ Quốc phòng và Bộ Công an để người nộp đơn có cơ sở rõ ràng hơn trong việc áp dụng.
  • Theo quy định, sáng chế được coi là bí mật nhà nước thì mới phải qua thủ tục kiểm soát an ninh trước khi đăng ký ra nước ngoài. Vì vậy, khi có nghi ngờ sáng chế có khả năng là bí mật nhà nước, trước hết người nộp đơn cần phải nộp văn bản yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định xem sáng chế có phải là bí mật nhà nước hay không. Do đó, cần có quy định hướng dẫn cụ thể về thủ tục để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định xem liệu sáng chế có phải bí mật nhà nước hay không.

Nếu Quý khách có nhu cầu hỗ trợ thêm về vấn đề nêu trên, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ e-mail hanoi@duongtran.vn.