Việt Nam: Bổ sung Căn cứ Mới để Hủy bỏ Hiệu lực Bằng độc quyền Sáng chế
9/22/2026
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 của Việt Nam (sau đây gọi là “Luật SHTT sửa đổi”), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2026 đã bổ sung một căn cứ mới để hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế liên quan đến tác giả sáng chế. Cụ thể, bằng độc quyền sáng chế có thể bị hủy bỏ hiệu lực nếu tác giả sáng chế không đáp ứng các yêu cầu quy định tại Khoản 1, Điều 122 của Luật SHTT. Khoản 1, Điều 122 của Luật SHTT quy định tác giả sáng chế là cá nhân trực tiếp tạo ra sáng chế; trường hợp có hai người trở lên cùng trực tiếp tạo ra sáng chế thì họ là đồng tác giả. Theo đó, trong trường hợp tác giả sáng chế không phải là cá nhân (con người) thì bằng độc quyền sáng chế có thể bị hủy bỏ hiệu lực.
Căn cứ này được bổ sung nhằm tạo cơ sở pháp lý để hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế trong trường hợp sáng chế được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo (AI). Dưới đây là tóm tắt về các căn cứ và cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế theo Luật SHTT hiện hành và các luật có liên quan.
1. Căn cứ hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế
Bằng độc quyền sáng chế có thể bị hủy bỏ hiệu lực toàn bộ trên cơ sở các căn cứ sau đây:
- Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh đối với sáng chế;
- Đơn đăng ký sáng chế đối với sáng chế được trực tiếp tạo ra dựa trên nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen nhưng không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen có trong đơn đó;
- Tác giả sáng chế không phải là con người.
Bằng độc quyền sáng chế có thể bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần hiệu lực nếu toàn bộ hoặc một phần văn bằng bảo hộ đó không đáp ứng quy định, trên cơ sở các căn cứ sau đây:
- Người nộp đơn không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đó;
- Sáng chế trong bằng độc quyền không đáp ứng các điều kiện bảo hộ hoặc trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh tại thời điểm cấp bằng;
- Việc sửa đổi, bổ sung đơn làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn;
- Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
- Sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu của đơn đăng ký sáng chế;
- Sáng chế không đáp ứng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên.
Văn bản hướng dẫn Luật SHTT (Thông tư 10/2026/TT-BKHCN được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 20/2026/TT-BKHCN) hướng dẫn về các trường hợp cụ thể trong đó bản mô tả sáng chế có sự thay đổi về nội dung và sự thay đổi này làm xuất hiện thông tin không có nguồn gốc trực tiếp và rõ ràng từ bản mô tả ban đầu của đơn, mà có thể dẫn đến hủy bỏ hiệu lực văn bằng, cụ thể như sau:
- Trong quá trình sửa đổi, bổ sung đơn, người nộp đơn đưa vào bản mô tả (các) dấu hiệu kỹ thuật không thể xác định được một cách trực tiếp và rõ ràng từ bản mô tả ban đầu;
- Bổ sung thông tin (bao gồm: thông tin về mục đích, hiệu quả v.v.) không thể xác định được một cách trực tiếp và rõ ràng từ phần mô tả ban đầu (kể cả hình vẽ) và/hoặc yêu cầu bảo hộ ban đầu để bộc lộ rõ sáng chế hoặc bộc lộ đầy đủ yêu cầu bảo hộ;
- Nội dung bổ sung vào bản mô tả là các dấu hiệu kỹ thuật liên quan đến thông số về kích thước thu được bằng cách đo thông số về kích thước trên các hình vẽ;
- Đưa vào bản mô tả chi tiết hoặc thành phần bổ sung không được đề cập đến trong bản mô tả ban đầu của đơn mà điều này dẫn đến những hiệu quả và/hoặc tác dụng đặc biệt không có trong đơn ban đầu;
- Bổ sung vào bản mô tả những hiệu quả và/hoặc tác dụng (lợi ích) mà người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng không thể xác định được từ đơn ban đầu;
- Thay đổi dấu hiệu kỹ thuật của yêu cầu bảo hộ mà dấu hiệu kỹ thuật thay đổi này không được bộc lộ hoặc không được xác định một cách trực tiếp và rõ ràng từ bản mô tả ban đầu;
- Đưa vào các nội dung mới bằng cách thay đổi các nội dung không xác định thành các nội dung xác định và cụ thể;
- Kết hợp các dấu hiệu kỹ thuật riêng biệt của đơn ban đầu lại thành một dấu hiệu kỹ thuật mới trong khi mối quan hệ giữa các dấu hiệu kỹ thuật này không được bộc lộ trong đơn ban đầu;
- Thay đổi một hoặc nhiều dấu hiệu kỹ thuật trong phần mô tả để làm cho các dấu hiệu kỹ thuật thay đổi khác với các dấu hiệu kỹ thuật nêu trong bản mô tả ban đầu;
- Loại bỏ một dấu hiệu kỹ thuật ra khỏi điểm yêu cầu bảo hộ mà dấu hiệu kỹ thuật này là cần thiết đối với đối tượng yêu cầu bảo hộ để đạt được mục đích đề ra và/hoặc việc loại bỏ dấu hiệu kỹ thuật này làm thay đổi dấu hiệu kỹ thuật hoặc (các) dấu hiệu kỹ thuật khác.
Sửa đổi trong quá trình hủy bỏ hiệu lực: không có quy định cụ thể và không có điều khoản nào cấm việc sửa đổi trong khi một bằng độc quyền sáng chế đang có yêu cầu hủy bỏ hiệu lực.
2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế
Việc hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế có thể được thực hiện bởi Cục Sở hữu trí tuệ (IPVN) hoặc Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ theo vụ án hủy bỏ quyết định hành chính.
Hủy bỏ hiệu lực tại IPVN:
Đây là cách thức thường được các bên liên quan tiến hành trong thực tế.
- Thời hiệu: Trong toàn bộ thời hạn bảo hộ của bằng độc quyền sáng chế
- Thời hạn xử lý: 18-25 tháng theo quy định, tuy nhiên, trong thực tế thời hạn này có thể bị chậm trễ.
Hủy bỏ hiệu lực tại Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ theo vụ án hủy bỏ quyết định hành chính:
- Thời hiệu: 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính (quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế).
- Thời hạn xử lý: khoảng 10-14 tháng cho thủ tục sơ thẩm và 7-10 tháng cho thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, đối với các vụ việc phức tạp, thời gian có thể kéo dài hơn.
3. Hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế trong quá trình giải quyết vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế theo thủ tục dân sự tại tòa án
Ngoài các cơ quan có thẩm quyền nêu trên, việc hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế trong quá trình giải quyết vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế theo thủ tục dân sự tại tòa án có thể được giải quyết luôn tại chính Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ trong cùng vụ kiện dân sự đang được Tòa án này giải quyết. Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ đang giải quyết vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế đó có thể xem xét việc hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế đang là đối tượng của vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế dựa trên một trong các căn cứ sau đây:
- (i) Yêu cầu phản tố của bị đơn: bị đơn yêu cầu Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ hủy bỏ quyết định cá biệt (quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế); hoặc
- (ii) Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ chủ động xem xét lại quyết định cá biệt (quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế). Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ đang giải quyết vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế có thể chủ động xem xét lại quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế là đối tượng của vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế mà không cần có yêu cầu từ một trong các bên. Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ có thể hủy bỏ quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế nếu có căn cứ để hủy bỏ hiệu lực.
- Thời hiệu:
- Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn (i), bị đơn phải nộp yêu cầu phản tố hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế trước khi diễn ra phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Đối với căn cứ về việc xem xét lại quyết định cá biệt (ii), hiện chưa có quy định chi tiết về thời hiệu. Theo quy định cũ, không có thời hiệu đối với việc xem xét lại quyết định cá biệt. Trên thực tế, có thể xem xét lại quyết định cá biệt vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế.
- Thời hạn xử lý: theo quy định, thời hạn xử lý cho thủ tục sơ thẩm là 10-14 tháng. Tuy nhiên, trong thực tế, đối với các vụ phức tạp thời hạn xử lý có thể là 15-24 tháng hoặc lâu hơn. Đối với thủ tục phúc thẩm, thời hạn là 6-12 tháng hoặc có thể lâu hơn đối với các vụ việc phức tạp.
Với việc ra đời của Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ với thẩm quyền hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế trong vụ án hành chính và thẩm quyền hủy bỏ quyết định cá biệt trong cùng vụ án dân sự về xâm phạm quyền đối với sáng chế, hy vọng rằng các vụ án về xâm phạm quyền đối với sáng chế sẽ không còn bị tạm dừng để chờ kết quả của việc xử lý hủy bỏ hiệu lực tại IPVN như trước đây.
Nếu cần hỗ trợ thêm về các vấn đề trên, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ e-mail sau: hanoi@duongtran.vn.