Duong & Tran Intellectual Property

Ba Án Lệ Đầu Tiên trong Lĩnh Vực Sở Hữu Trí Tuệ được Hội đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Thông Qua

10/22/2026

Ngày 24 tháng 9 năm 2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (TANDTC) đã thông qua 3 án lệ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) sau phiên họp biểu quyết đối với các dự thảo án lệ cùng ngày. Đây là lần đầu tiên TANDTC phê chuẩn các án lệ trong lĩnh vực SHTT.

Mặc dù Việt Nam không phải là quốc gia theo hệ thống thông luật (common law), theo quy định, án lệ khi đã được TANDTC lựa chọn và công bố sẽ được nghiên cứu, áp dụng trong xét xử sau 30 ngày kể từ ngày được công bố. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau. Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án không áp dụng án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, việc phê chuẩn ba án lệ đầu tiên về SHTT có ý nghĩa quan trọng, nâng cao tính nhất quán trong xét xử các vụ án về SHTT tại tòa án trong bối cảnh vụ án về SHTT tăng lên về số lượng.

Văn bản chính thức của các án lệ hiện vẫn đang trong quá trình chỉnh lý. Dưới đây tóm tắt ngắn gọn các vấn đề được xem xét trong ba án lệ dựa trên dự thảo của ba án lệ được công bố.

Dự thảo án lệ thứ nhất

Án lệ thứ nhất liên quan đến căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính. Nguồn án lệ thứ nhất là Bản án phúc thẩm số 07/2023/KDTM-PT ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh, thương mại liên quan đến quyền tác giả đối với phần mềm máy tính.

  • Trước khi bị khởi kiện, bị đơn đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sao chép, sử dụng phần mềm máy tính thuộc quyền tác giả của nguyên đơn.
  • Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả có cung cấp các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng phần mềm máy tính đã được nguyên đơn thực hiện làm căn cứ xác định mức bồi thường.
  • Tòa án căn cứ vào giá chuyển giao quyền sử dụng phần mềm máy tính được thực hiện gần nhất trước thời điểm hành vi xâm phạm quyền SHTT để làm căn cứ xác định mức bồi thường. Tòa án cho rằng nguyên đơn đã chứng minh được thiệt hại khi bị đơn xâm phạm quyền tác giá với giá chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả đối với chương trình phần mềm máy tính là giá thực tế thực hiện tại Việt Nam. Tòa án đã chấp nhận mức yêu cầu bồi thường của nguyên đơn tương ứng giá trị của gói phần mềm chuyển giao trước thời điểm bị đơn xâm phạm gần nhất (trên cơ sở hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng chính phần mềm này với một công ty khác tại Việt Nam).
  • Các tài liệu mà nguyên đơn dùng để chứng minh cho yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình gồm: hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng phần mềm cho các công ty khác tại Việt Nam, hóa đơn thanh toán các khoản tiền theo hợp đồng.

Án lệ này mở ra hướng áp dụng linh hoạt cho các tòa án cho phép căn cứ vào giao dịch thực tế về chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT thay vì yêu cầu nguyên đơn phải chứng minh mức thiệt hại thực tế và mối liên hệ nhân quả giữa mức thiệt hại thực tế với hành vi xâm phạm cụ thể của bị đơn gây ra như quy định về nguyên tắc chung khi xác định thiệt hại trong tranh chấp về SHTT.

Dự thảo án lệ thứ hai

Án lệ thứ hai liên quan đến vấn đề bồi thường chi phí thuê luật sư và nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả trong trường hợp có chứng cứ ngược lại. Nguồn án lệ thứ hai là Bản án phúc thẩm số 66/2023/KDTM-PT ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án kinh doanh, thương mại liên quan đến quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc.

  • Bị đơn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, bao gồm cả phần lời bài hát ngày 24/4/2019. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn cho rằng mình là tác giả bài thơ có nội dung trùng với phần lời bài hát của tác phẩm âm nhạc mà bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả. Nguyên đơn đưa ra chứng cứ chứng minh nguyên đơn đã đăng tải, công bố bài thơ lần đầu tiên trên mạng xã hội Facebook vào ngày 13/6/2014, trước thời điểm bị đơn đăng ký quyền tác giả.
  • Tòa án đã xác định nguyên đơn có chứng cứ ngược lại chứng minh mình là tác giả bài thơ có nội dung trùng với phần lời bài hát của tác phẩm âm nhạc mà bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả nên bị đơn phải có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả của mình đối với phần lời bài hát này cho dù bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả với cả phần lời của bài hát. Trong trường hợp này bị đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho quyền tác giả của mình trước thời điểm công bố bài thơ trên mạng xã hội Facebook của nguyên đơn. Do vậy, Tòa án tuyên nguyên đơn mới là người có quyền tác giả với phần lời bài hát này.
  • Nguyên đơn xuất trình hợp đồng dịch vụ pháp lý với văn phòng luật sư với thời hạn thanh toán phí dịch vụ là 03 ngày từ ngày nhận được các khoản bồi thường thiệt hại từ bị đơn làm căn cứ yêu cầu bồi thường chi phí thuê luật sư. Tòa án đã xác định chi phí thuê luật sư là khoản chi phí hợp lý phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền SHTT bị xâm phạm nên ngay cả khi nguyên đơn chưa thanh toán khoản phí luật sư này trên thực tế, tòa vẫn tuyên bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường khoản chi phí luật sư này theo hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa nguyên đơn và văn phòng luật sư đại diện cho nguyên đơn.

Án lệ này có ý nghĩa thực tiễn lớn đối với vấn đề bồi thường chi phí thuê luật sư ngay cả khi phí luật sư chưa được thanh toán trên thực tế tính đến thời điểm xét xử và việc xác định nghĩa vụ chứng minh của các bên trong tranh chấp quyền tác giả ngay cả khi một bên đã có giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả nhưng xuất hiện chứng cứ phản bác đối với quyền tác giả mà bên còn lại đưa ra.

Dự thảo án lệ thứ ba

Án lệ thứ ba liên quan đến việc định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Nguồn án lệ thứ ba là Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2026/HS-ST ngày 12/01/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng về vụ án hình sự xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

  • Ban đầu, hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của bị cáo do Cơ quan Quản lý thị trường thành phố Hải Phòng phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Hải Phòng tiến hành kiểm tra và phát hiện ra: các sản phẩm giày, dép, túi xách gắn các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam mà bị đơn kinh doanh mà không được phép của các chủ sở hữu nhãn hiệu này.
  • Viện sở hữu trí tuệ Quốc gia đã giám định và kết luận sản phẩm hàng hóa là giày, dép, túi xách mà bị đơn kinh doanh là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam cho các sản phẩm cùng loại.
  • Bị cáo đã có hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam (hành vi mua bán các sản phẩm hàng hóa là giày, dép, túi xách gắn dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đang được bảo hộ) mà không được sự cho phép của các chủ sở hữu nhãn hiệu.
  • Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự.

Án lệ này góp phần làm rõ việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm từ đó quyết định việc định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt trong các vụ án về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Ba án lệ được lựa chọn nêu trên là những vấn đề thường phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc về sở hữu trí tuệ, đặc biệt việc xác định thiệt hại thường là vấn đề gây khó khăn trong việc chứng minh thiệt hại thực tế cho nguyên đơn, nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả khi có xung đột và việc xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Các án lệ này ngoài việc là nguồn tham khảo cho Tòa án trong quá trình giải quyết những vụ án có tình tiết pháp lý tương tự, còn giúp các chủ thể quyền và các bên liên quan trong hoạt động tố tụng có thêm hiểu biết, đánh giá được sơ bộ vụ việc của mình đặt trong bối cảnh diễn giải, áp dụng pháp luật của tòa án trong thực tiễn xét xử.

Nếu cần hỗ trợ thêm về vấn đề nêu trên, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ e-mail sau: hanoi@duongtran.vn.